Từ ngày 1/10, Nghị định 365/2026/NĐ-CP về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo chính thức có hiệu lực, thay thế Nghị định 107/2018/NĐ-CP và Nghị định 01/2025/NĐ-CP. Văn bản mới đáng chú ý với việc giảm điều kiện gia nhập thị trường, đơn giản hóa thủ tục cấp phép nhưng đồng thời bổ sung yêu cầu về dự trữ lưu thông, báo cáo, đánh giá mức độ tín nhiệm và trách nhiệm của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động.
Theo Cục Xuất nhập khẩu, bên cạnh việc kế thừa các quy định còn phù hợp, Nghị định số 365/2026/NĐ-CP đã bãi bỏ, cắt giảm một số quy định so với Nghị định số 107/2018/NĐ-CP và các văn bản có liên quan. Trong đó, điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo được rút từ 3 xuống còn 2 điều kiện: Doanh nghiệp phải có ít nhất một kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo và một cơ sở xay xát gạo đáp ứng quy định về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Kho, cơ sở xay xát có thể thuộc sở hữu của doanh nghiệp hoặc đi thuê của tổ chức, cá nhân khác theo hợp đồng bằng văn bản.
Một điểm mới quan trọng, việc mở rộng diện miễn trừ điều kiện kinh doanh đối với các dòng sản phẩm đặc thù. Doanh nghiệp xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo đồ và gạo bổ sung vi chất dinh dưỡng không phải đáp ứng điều kiện về kho chuyên dùng và cơ sở xay xát để được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo. Các doanh nghiệp này cũng không phải thực hiện dự trữ lưu thông và chế độ báo cáo định kỳ như thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo thông thường.
Thủ tục cấp Giấy chứng nhận cũng được rút gọn theo hướng giảm giấy tờ và thời gian xử lý. Doanh nghiệp không còn phải cung cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư trong hồ sơ, bởi các thông tin này có thể được cơ quan nhà nước tra cứu trên cơ sở dữ liệu quốc gia. Hồ sơ chỉ yêu cầu những chứng từ cần thiết và không đặt thêm yêu cầu đối với các giấy tờ phải công chứng.
Về thời gian giải quyết, trường hợp hồ sơ cấp Giấy chứng nhận đầy đủ, thời hạn xử lý giảm từ 15 ngày làm việc xuống còn 10 ngày. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ, thời gian cơ quan quản lý trả lời doanh nghiệp giảm từ 7 ngày xuống 5 ngày làm việc. Với thủ tục cấp lại hoặc sửa đổi, bổ sung Giấy chứng nhận, thời hạn giải quyết hồ sơ đầy đủ được rút từ 10 ngày xuống 7 ngày; thời gian phản hồi hồ sơ chưa đầy đủ cũng còn 5 ngày.
Chế độ báo cáo được giảm đáng kể về tần suất. Thay vì phải báo cáo 3 lần mỗi tháng như quy định trước đây, doanh nghiệp xuất khẩu gạo chỉ thực hiện một báo cáo định kỳ vào ngày 5 hằng tháng.
Ở chiều ngược lại, các yêu cầu duy trì hoạt động và chế tài cũng được quy định rõ hơn. Giấy chứng nhận có thể bị thu hồi khi doanh nghiệp không xuất khẩu gạo liên tục, không duy trì mức dự trữ lưu thông hoặc không còn đáp ứng điều kiện kinh doanh. Trường hợp kê khai không đúng thực tế về kho, cơ sở xay xát hoặc có gian lận để được cấp Giấy chứng nhận cũng thuộc diện bị xử lý.
Đối với hợp đồng xuất khẩu gạo tập trung, quy định mới làm rõ cơ chế chỉ định thương nhân đầu mối và đầu mối luân phiên. Thương nhân đầu mối được trực tiếp xuất khẩu 20% lượng hàng thuộc hợp đồng, trong khi 80% còn lại được phân bổ cho các thương nhân khác thực hiện ủy thác. Việc phân bổ dựa trên các tiêu chí công khai như thành tích xuất khẩu, kết quả xây dựng vùng nguyên liệu và mức độ tín nhiệm.
Trong trường hợp cần thiết, căn cứ diễn biến thị trường, Thủ tướng Chính phủ có thể xem xét, quyết định điều chỉnh hoạt động xuất khẩu gạo và áp dụng khung giá gạo xuất khẩu trên cơ sở đề nghị của Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương. Cơ chế này nhằm tạo dư địa điều hành khi thị trường trong nước hoặc quốc tế có biến động.
Một thay đổi khác là trách nhiệm của các cơ quan quản lý được phân định cụ thể hơn. Bộ Công Thương chủ trì quản lý, điều hành hoạt động xuất, nhập khẩu gạo; Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo dõi sản xuất, nguồn cung, vùng nguyên liệu, liên kết sản xuất và tiêu thụ; Bộ Tài chính cung cấp thông tin về tình hình xuất, nhập khẩu. UBND cấp tỉnh phối hợp theo dõi sản xuất, nguồn cung, vùng nguyên liệu và cung cấp thông tin về doanh nghiệp trên địa bàn.
Nghị định cũng bổ sung vai trò của Hiệp hội Lương thực Việt Nam và Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam. Hai hiệp hội có trách nhiệm phối hợp với địa phương hỗ trợ hội viên xây dựng vùng nguyên liệu; tham gia kiểm tra, phát hiện và kiến nghị xử lý vi phạm; hướng dẫn mua thóc, gạo hàng hóa, duy trì dự trữ lưu thông và tham gia bình ổn thị trường.
Các hiệp hội còn được giao xây dựng, duy trì trang thông tin về cung - cầu, giá cả và dự báo thị trường gạo trong và ngoài nước; hỗ trợ mở rộng thị trường xuất khẩu; báo cáo về diễn biến giá, lượng tồn kho; đồng thời phối hợp đánh giá mức độ tín nhiệm, phân bổ và đôn đốc thực hiện hợp đồng xuất khẩu gạo tập trung.
Về dài hạn, cơ chế đánh giá mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp, được áp dụng từ ngày 1/1/2028. Nghị định đưa ra 10 nhóm tiêu chí gồm tín dụng; thuế; hải quan; liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm; xây dựng, phát triển thương hiệu gạo; kết quả xuất khẩu; thực hiện báo cáo và dự trữ lưu thông; điều kiện kho, cơ sở xay xát và thu mua thóc, gạo cho nông dân; hệ thống kho và logistics; cùng việc tuân thủ các quy định về an toàn, vệ sinh lao động, phòng cháy chữa cháy và phòng chống thiên tai, bão lụt.
Mức độ tín nhiệm không chỉ mang tính đánh giá. Đây sẽ là một trong những tiêu chí để lựa chọn thương nhân đầu mối giao dịch và phân bổ hợp đồng xuất khẩu gạo tập trung. Điều này khiến việc duy trì tuân thủ, kết quả xuất khẩu, vùng nguyên liệu, hệ thống logistics và các nghĩa vụ liên quan trở thành những yếu tố có ý nghĩa trực tiếp đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Với hoạt động nhập khẩu, quy định mới yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin về nhu cầu và tình hình kinh doanh nhập khẩu gạo. Đây là cơ sở để Chính phủ và các bộ, ngành theo dõi thị trường, từ đó điều tiết hoạt động nhập khẩu phù hợp với mục tiêu quản lý trong từng thời kỳ.
Về chuyển tiếp, doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận theo Nghị định 107/2018/NĐ-CP và các quy định sửa đổi không phải xin cấp lại. Các đơn vị này tiếp tục được kinh doanh xuất khẩu gạo cho đến hết thời hạn của Giấy chứng nhận đã được cấp. Nghị định 365/2026/NĐ-CP đồng thời bãi bỏ toàn bộ Nghị định 107/2018/NĐ-CP, Nghị định 01/2025/NĐ-CP và khoản 2 Điều 27 Nghị định 85/2024/NĐ-CP.