Giá nông sản hôm nay (21/9): Giá lợn hơi dao động trong khoảng 57.000 - 60.000 đồng/kg, cà phê lao dốc

Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

0:00 / 0:00
0:00
Giá nông sản hôm nay (21/9): Giá lợn hơi dao động trong khoảng 57.000 - 60.000 đồng/kg, cà phê lao dốc

Ngày 21/9, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO ỔN ĐỊNH

Giá lúa gạo hôm nay (21/9) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ổn định, giao dịch mua bán ít. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.700 - 8.750 đồng/kg. Trong khi đó, giá lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 5.900 - 6.100 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 dao động mốc 5.900 - 6.000 đồng/kg.

gia-gao-viet-tang-cao-co-hoi-xuat-khau-da-den.jpg
Giá gạo lại duy trì ổn định

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 hôm nay dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.700 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.300 - 8.600 đồng/kg. Hiện tấm thơm 3 - 4 dao động ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.300 - 7.650 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ giá gạo bình giá so với cuối tuần. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 15.500 - 16.500 đồng/kg.

Phân khúc nếp đi ngang so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.

Với mặt hàng lúa, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 5.900 - 6.100 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 dao động mốc 5.900 - 6.000 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động ở mức 5.800 - 6.000 đồng/kg; lúa tươi OM 34 dao động mốc 5.700 - 5.800 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.100 - 6.200 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang với hôm qua. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 440 - 445 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 526 - 530 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 368 - 372 USD/tấn.

Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm của nước này tiếp tục duy trì mức cao nhất trong số các nước xuất khẩu hàng đầu, khoảng 477 - 481 USD/tấn.

Giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan cũng không biến động, dao động trong khoảng 419 - 423 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm của được chào bán ở mức 375 - 379 USD/tấn; gạo đồ 5% tấm đạt 377 - 381 USD/tấn.

GIÁ CÀ PHÊ TIẾP ĐÀ GIẢM

Giá cà phê hôm nay tại khu vực Tây Nguyên dao động trong khoảng 93.000 - 93.800 đồng/kg, giảm 1.500 - 1.700 đồng/kg so với cuối tuần trước. Toàn bộ các địa phương khảo sát hiện đã rơi xuống dưới mốc 94.000 đồng/kg.

Cụ thể, Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) giảm 1.500 đồng/kg trong tuần, xuống còn 93.800 đồng/kg. Dù vậy, đây vẫn là địa phương có giá cà phê cao nhất khu vực. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cùng giảm 1.600 đồng/kg, xuống 93.600 đồng/kg.

ca-phe-arabica-31bb32583b244d0684bb2fd7ad7ec4cd.jpg
Giá cà phê hôm nay giảm 1.500 - 1.700 đồng/kg so với cuối tuần trước

Lâm Đồng ghi nhận mức giảm mạnh nhất, mất 1.700 đồng/kg so với tuần trước và hiện được thu mua ở mức 93.000 đồng/kg, thấp nhất trong số các địa phương khảo sát.

Trên thị trường thế giới, hai chủng loại cà phê chính cũng giảm. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta hợp đồng tháng 11/2026 kết thúc tuần ở mức 3.396 USD/tấn, giảm 129 USD/tấn, tương đương 3,7% so với cuối tuần trước. Hợp đồng tháng 1/2027 giảm mạnh hơn 135 USD/tấn, tương ứng 3,8%, xuống còn 3.373 USD/tấn.

Trên sàn New York, cà phê Arabica cũng khép tuần trong xu hướng giảm nhưng mức điều chỉnh thấp hơn Robusta. Hợp đồng tháng 12/2026 giảm 5,2 US cent/pound, tương đương 1,8%, xuống 280,5 US cent/pound. Hợp đồng tháng 3/2027 giảm 1,9%, tương đương 5,3 US cent/pound, còn 271,95 US cent/pound.

GIÁ TIÊU LAO DỐC

Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm dao động trong khoảng 137.000 - 141.000 đồng/kg. So với cuối tuần trước, thị trường nhìn chung ổn định, ngoại trừ Đắk Lắk giảm 1.000 đồng/kg.

Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục giữ mức thu mua cao nhất cả nước, đạt 141.000 đồng/kg và không thay đổi so với tuần trước. Đắk Lắk hiện được giao dịch ở mức 139.000 đồng/kg, giảm 1.000 đồng/kg trong tuần.

22032026thuy85.jpg
Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm dao động trong khoảng 137.000 - 141.000 đồng/kg

Tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu duy trì ở mức 137.500 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai cùng đứng ở mức 137.000 đồng/kg, thấp nhất trong số các địa phương khảo sát.

Như vậy, sau một tuần giao dịch, khoảng cách giữa mức giá cao nhất và thấp nhất vẫn là 4.000 đồng/kg. Diễn biến giảm chỉ xuất hiện cục bộ, chưa tạo thành xu hướng điều chỉnh rộng trên thị trường nội địa.

Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu tuần qua cũng ghi nhận sự đi xuống tại Indonesia và Malaysia.

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Indonesia giảm 53 USD/tấn so với tuần trước, xuống còn 6.886 USD/tấn. Tiêu đen Malaysia giảm 50 USD/tấn, còn 9.250 USD/tấn.

Trong khi đó, tiêu đen ASTA 570 của Brazil giữ ổn định ở mức 5.750 USD/tấn. Giá tiêu đen xuất khẩu Việt Nam cũng không thay đổi, duy trì ở mức 6.070 - 6.130 USD/tấn đối với hai quy cách 500 g/l và 550 g/l.

Ở phân khúc tiêu trắng, Muntok của Indonesia giảm 72 USD/tấn, xuống còn 9.428 USD/tấn. Tiêu trắng Malaysia giảm 50 USD/tấn, đạt 12.150 USD/tấn.

Riêng tiêu trắng xuất khẩu Việt Nam duy trì mức 8.450 USD/tấn trong suốt tuần.

GIÁ CAO SU ỔN ĐỊNH

Tại thị trường trong nước, giá cao su thu mua tiếp tục duy trì ổn định tại các doanh nghiệp được khảo sát.

Cụ thể, tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).

Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

image-5.jpg
Giá cao su tại các doanh nghiệp lớn tại thị trường trong nước bình ổn

Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg và giá thu mua tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) bình ổn 18.000 đồng/kg.

Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM (Tokyo) - Nhật Bản biến động lệch chiều tại các kỳ hạn. Cụ thể, hợp đồng giao tháng 9 giảm 51.30 Yên/kg (-11,09%), về mức 462.60 Yên/kg; hợp đồng tháng 10/2026 tăng 1.30 Yên/kg (+0,29%), lên mức 454.70 Yên/kg.

Trên sàn SHFE (Thượng Hải) - Trung Quốc, giá cao su tự nhiên đảo chiều tăng tại các kỳ hạn giao hàng. Hợp đồng giao tháng 10 tăng 115 Nhân dân tệ/tấn (+0,64%), lên mức 17.995 Nhân dân tệ/tấn. Hợp đồng tháng 11/2026 tăng 125 Nhân dân tệ/tấn (+0,70%), lên mức 18.035 Nhân dân tệ/tấn.

Trên Sàn Giao dịch SGX - Singapore, hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 10 giảm khoảng 1,82%, xuống 237,10 US cent/kg. Hợp đồng tháng 11 giảm 1,12%.

Trong ngắn hạn, giá cao su nhiều khả năng tiếp tục dao động với biên độ lớn. Nhịp phục hồi tại sàn SHFE và kỳ hạn tháng 10 trên sàn TOCOM cho thấy lực bán đã phần nào suy yếu, nhưng diễn biến kém tích cực tại SGX chưa cho phép khẳng định thị trường đã đảo chiều.

Về trung hạn, nguy cơ thiếu hụt cao su tự nhiên, quá trình tái canh chậm và giá dầu cao là những yếu tố nâng đỡ thị trường. Rủi ro lớn nhất vẫn nằm ở sức tiêu thụ lốp xe, triển vọng kinh tế Trung Quốc và khả năng nguồn cung Đông Nam Á phục hồi trong mùa khai thác. Vì vậy, giá cao su có thể cải thiện nhưng khó tăng liên tục, thay vào đó là những nhịp tăng giảm đan xen và phụ thuộc nhiều vào số liệu nhu cầu thực tế.

GIÁ THỊT LỢN TĂNG NHẸ

Tại miền Bắc, giá lợn hơi trong tuần qua ở Cao Bằng, Thái Nguyên, Hà Nội và Điện Biên cùng tăng 1.000 đồng/kg. Các địa phương còn lại giữ giá ổn định.

Sau những điều chỉnh này, giá lợn hơi miền Bắc hiện dao động từ 58.000 - 60.000 đồng/kg. Thái Nguyên, Hà Nội và Hưng Yên cùng đứng ở mức 60.000 đồng/kg, cao nhất khu vực và cũng là mức cao nhất trên cả nước.

Đáng chú ý, mốc 60.000 đồng/kg đã trở lại thị trường trong tuần qua sau một thời gian giá chủ yếu dao động dưới ngưỡng này. Việc có ba địa phương cùng chạm mốc trên cho thấy mặt bằng giá tại miền Bắc đã cải thiện nhẹ.

Lào Cai tiếp tục là địa phương có giá thấp nhất khu vực với 58.000 đồng/kg. Các địa phương còn lại phổ biến ở mức 59.000 đồng/kg. Như vậy, khoảng cách giữa mức cao nhất và thấp nhất tại miền Bắc chỉ còn 2.000 đồng/kg.

Tại miền Trung - Tây Nguyên, thị trường ít biến động hơn. Đắk Lắk là địa phương duy nhất điều chỉnh, tăng 1.000 đồng/kg lên 58.000 đồng/kg.

Hiện Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Đắk Lắk và Lâm Đồng cùng được thu mua ở mức 58.000 đồng/kg. Các địa phương còn lại trong khu vực giữ mức 57.000 đồng/kg.

Trong khi đó, miền Nam trải qua một tuần hoàn toàn đi ngang. Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, TP. Hồ Chí Minh, Vĩnh Long và Cần Thơ cùng duy trì mức 58.000 đồng/kg. Cà Mau tiếp tục thấp nhất khu vực với 57.000 đồng/kg. Giá lợn hơi cao nhất và thấp nhất cả nước chênh 3.000 đồng/kg

Nhìn tổng thể, thị trường lợn hơi tuần qua có xu hướng nhích lên nhưng mức điều chỉnh chưa lớn và cũng chưa lan rộng.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Xem thêm

Có thể bạn quan tâm