Giá nông sản hôm nay (15/6): Giá cà phê phục hồi mạnh mẽ, hồ tiêu ổn định

Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

0:00 / 0:00
0:00
Giá cà phê tuần qua tăng mạnh từ 4.300 - 4.500 đồng/kg
Giá cà phê tuần qua tăng mạnh từ 4.300 - 4.500 đồng/kg

Ngày 15/6, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO

Giá lúa gạo hôm nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục diễn biến khá trầm lắng khi nguồn hàng về ít, giao dịch mua bán chậm. Trong khi giá gạo nguyên liệu và gạo xuất khẩu cơ bản đi ngang.

snapedit-1691312378254-854.jpg
Giá lúa gạo trong nước không có nhiều biến động

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 hôm nay dao động ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 9.100 - 9.200 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.500 - 9.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo thành phẩm IR 504 dao động ở 10.750 - 10.900 đồng/kg

Tại các chợ lẻ, giá gạo đi ngang. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Đài Loan 20.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 13.000 - 14.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 15.000 - 16.000 đồng/kg, gạo Sóc thường dao động ở mốc 16.000 - 17.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg.

Phân khúc nếp ổn định. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.

Tương tự với mặt hàng lúa, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 6.400 - 6.500 đồng/kg; lúa Đài Thơm 8 (tươi) dao động ở mốc 6.400 - 6.500 đồng/kg; lúa OM 5451 (tươi) dao động mốc 5.700 - 5.800 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) dao động ở mức 5.500 - 5.600 đồng/kg; lúa OM 34 (tươi) dao động mốc 5.100 - 5.200 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam hiện duy trì ở nhiều mức khác nhau. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine được chào bán ở mức 509 - 513 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 485 - 495 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 343 - 347 USD/tấn.

Trên thị trường thế giới, giá gạo 5% tấm tại Thái Lan dao động 462 - 466 USD/tấn, gạo 100% tấm dao động từ 415 - 419 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động ở mức 343 - 347 USD/tấn, gạo 100% tấm chào bán 278 - 282 USD/tấn.

GIÁ CÀ PHÊ

Khảo sát tại các tỉnh Tây Nguyên cho thấy, giá cà phê tuần qua tăng mạnh từ 4.300 - 4.500 đồng/kg so với cuối tuần trước, đưa mặt bằng giá lên vùng 89.000 - 89.700 đồng/kg.

Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có giá thu mua cao nhất cả nước với 89.700 đồng/kg, tăng 4.300 đồng/kg so với tuần trước. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng tăng 4.300 đồng/kg, lên mức 89.500 đồng/kg.

Đáng chú ý, Lâm Đồng là địa phương ghi nhận mức tăng mạnh nhất khi tăng thêm 4.500 đồng/kg, đưa giá thu mua lên 89.000 đồng/kg.

Như vậy, chỉ sau một tuần, giá cà phê nội địa đã tăng hơn 5%, tiến rất sát ngưỡng tâm lý 90.000 đồng/kg. Đây cũng là mức giá cao nhất kể từ đầu tháng 6 đến nay.

Trên thị trường thế giới, giá cà phê cũng duy trì xu hướng tăng mạnh. Cụ thể, trên sàn London, giá cà phê Robusta kỳ hạn tháng 7/2026 chốt tuần ở mức 3.594 USD/tấn, tăng 278 USD/tấn, tương đương 8,4% so với tuần trước. Hợp đồng giao tháng 9/2026 cũng tăng 5%, lên 3.395 USD/tấn.

Trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao tháng 7/2026 tăng 4,3%, đạt 257,2 US cent/pound. Hợp đồng tháng 9 tăng 4,7%, lên mức 253,4 US cent/pound.

GIÁ TIÊU

Khảo sát tại các vùng trồng tiêu trọng điểm cho thấy, giá tiêu trong nước tuần qua dao động trong khoảng 138.500 - 140.500 đồng/kg, tăng từ 500 - 1.500 đồng/kg so với cuối tuần trước.

photo-2-15459692072461842347868.jpg
Giá tiêu trong nước tuần qua dao động trong khoảng 138.500 - 140.500 đồng/kg

Gia Lai và Đồng Nai là 2 địa phương ghi nhận mức tăng mạnh nhất, cùng tăng 1.500 đồng/kg lên 138.500 đồng/kg. Tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu cũng tăng 1.500 đồng/kg, đạt 139.500 đồng/kg.

Trong khi đó, Đắk Lắk và Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục duy trì vị thế là những địa phương có giá tiêu cao nhất cả nước với 140.500 đồng/kg, tăng 500 đồng/kg so với tuần trước.

Diễn biến này cho thấy thị trường hồ tiêu trong nước đã có tín hiệu tích cực hơn sau giai đoạn giao dịch khá trầm lắng kéo dài từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 6.

Trên thị trường quốc tế, dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, giá tiêu đen Indonesia kết thúc tuần ở mức 7.137 USD/tấn, tăng 46 USD/tấn, tương đương 0,65% so với tuần trước.

Ở chiều ngược lại, giá tiêu đen Brazil loại ASTA 570 tiếp tục giảm tuần thứ 3 liên tiếp, mất thêm 75 USD/tấn xuống còn 5.950 USD/tấn. Đây vẫn là mức giá thấp nhất trong nhóm các quốc gia xuất khẩu hồ tiêu lớn trên thế giới.

Tại Malaysia, giá tiêu đen tiếp tục đi ngang ở mức 9.350 USD/tấn, duy trì vị trí cao nhất thị trường. Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu vẫn ổn định trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.

Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng 60 USD/tấn, tương đương 0,66%, lên mức 9.211 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu trắng Malaysia và Việt Nam tiếp tục được chào bán lần lượt ở mức 12.250 USD/tấn và 9.000 USD/tấn.

GIÁ CAO SU

Trong nước, giá cao su chưa ghi nhận điều chỉnh đáng kể. Cụ thể, tại Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 505 đồng/độ TSC/kg; thu mua tại đội sản xuất 495 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) 18.000 đồng/kg.

Công ty Cao su Bà Rịa thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

co-phieu-cao-su-e79960c7c6.jpg
Trong nước, giá thu mua mủ cao su vẫn duy trì ổn định

Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1).

Tại thị trường thế giới, kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn Tocom Tokyo tiếp tục xu hướng tăng. Cụ thể, tại hợp đồng tháng 6/2026 tăng 3,80 Yên/kg (+ 0,91%), lên mức 418.90 Yên/kg; kỳ hạn tháng 7/2026 tăng 3.50 Yên/kg (+ 0,83%), lên mức 419.60 yên/kg.

Trên sàn SHFE Thượng Hải, giá cao su tự nhiên tiếp đà tăng nhẹ tại các kỳ giao hàng. Cụ thể, hợp đồng tháng 6/2026 tăng 25 Nhân dân tệ/tấn (+ 0,14%), lên mức 17.500 Nhân dân tệ/tấn; kỳ hạn tháng 7/2026 tăng 200 Nhân dân tệ/tấn (+ 1,14%), lên mức 17.735 Nhân dân tệ/tấn.

Trên Sàn SICOM - Singapore, hợp đồng cao su giao tháng 7 giao dịch ở mức 225,5 US cent/kg, tăng 0,5%.

Thị trường cao su châu Á tuần qua diễn biến trái chiều khi chịu tác động đan xen từ yếu tố năng lượng và nguồn cung. Trên Sở Giao dịch Osaka (OSE), hợp đồng cao su giao tháng 11 giảm 0,65% trong phiên cuối tuần, xuống còn 426,1 Yên/kg. Tính chung cả tuần, mặt hàng này mất 0,81%, phản ánh tâm lý thận trọng của giới đầu tư trước những biến động trên thị trường dầu mỏ.

Theo các nhà phân tích, giá cao su thiên nhiên thường có mối liên hệ chặt chẽ với dầu thô do phải cạnh tranh trực tiếp với cao su tổng hợp - sản phẩm được sản xuất từ các dẫn xuất dầu mỏ. Khi giá dầu giảm, chi phí sản xuất cao su tổng hợp trở nên rẻ hơn, qua đó làm giảm sức hấp dẫn của cao su thiên nhiên trên thị trường.

Dù vậy, thị trường chưa xuất hiện xu hướng giảm sâu khi nhu cầu từ ngành sản xuất lốp xe tại châu Á vẫn tương đối ổn định. Trên Sàn giao dịch tương lai Thượng Hải (SHFE), hợp đồng cao su butadien giao tháng 7 vẫn tăng hơn 1%, cho thấy nhu cầu đối với nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp ô tô vẫn duy trì tích cực.

GIÁ THỊT LỢN

Khảo sát tại thị trường miền Bắc, giá lợn hơi hôm nay tiếp tục đi ngang tại tất cả các địa phương. Các tỉnh gồm Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Phòng, Phú Thọ và Hưng Yên tiếp tục duy trì mức 68.000 đồng/kg, cao nhất khu vực và cũng là mức cao nhất cả nước.

Trong khi đó, Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Ninh Bình, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên và Sơn La vẫn giữ nguyên mức 67.000 đồng/kg.

Hiện giá lợn hơi miền Bắc dao động từ 67.000 đồng/kg đến 68.000 đồng/kg.

thit-1672719644105.jpg
Nhìn chung, giá lợn hơi hôm nay tiếp tục duy trì trạng thái ổn định trên cả nước

Tại Miền Trung - Tây Nguyên, giá lợn hơi hôm nay không có điều chỉnh mới. Các tỉnh gồm Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh tiếp tục duy trì mức 67.000 đồng/kg, cao nhất khu vực. Giá lợn tại Quảng Trị giữ nguyên mức 65.000 đồng/kg.

Trong khi đó, Huế và Lâm Đồng tiếp tục giao dịch lợn hơi ở mức 64.000 đồng/kg.

Các địa phương gồm Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk và Khánh Hòa duy trì mức 63.000 đồng/kg, thấp nhất khu vực.

Hiện giá lợn hơi miền Trung - Tây Nguyên dao động từ 63.000 đồng/kg đến 67.000 đồng/kg.

Tại miền Nam, giá lợn hơi hôm nay tiếp tục đi ngang. Đồng Nai tiếp tục giữ mức 65.000 đồng/kg, cao nhất khu vực.

Giá lợn hơi tại Tây Ninh, TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ duy trì mức 64.000 đồng/kg. Trong khi đó, Đồng Tháp, An Giang và Vĩnh Long tiếp tục giao dịch ở mức 63.000 đồng/kg. Cà Mau vẫn giữ mức 62.000 đồng/kg, thấp nhất cả nước.

Hiện giá lợn hơi miền Nam dao động từ 62.000 đồng/kg đến 65.000 đồng/kg.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Xem thêm

Có thể bạn quan tâm