Thống đốc: Chưa thể bỏ room tín dụng vì rủi ro nợ quốc gia vẫn còn lớn

Việc dỡ bỏ room tín dụng cần được tiếp cận một cách thận trọng, đảm bảo đồng bộ các điều kiện cần thiết và từng bước thực hiện phù hợp với thị trường...

Thống đốc Nguyễn Thị Hồng
Thống đốc Nguyễn Thị Hồng

Thay mặt Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng mới có báo cáo gửi Quốc hội về thực hiện nghị quyết chất vấn, giám sát từ đầu nhiệm kỳ liên quan đến lĩnh vực ngân hàng , trong đó có nội dung nghiên cứu hạn chế và tiến tới xóa bỏ việc điều hành phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho từng tổ chức tín dụng.

Báo cáo nêu rõ, hiện áp lực lạm phát dù đã được kiểm soát nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro trong khi rủi ro nợ quốc gia vẫn còn lớn đang gây thách thức cho công tác điều hành chính sách tiền tệ và tín dụng của Ngân hàng Nhà nước.

Chính vì vậy, việc duy trì công cụ hạn mức tín dụng là nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng, qua đó góp phần tích cực trong kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định vĩ mô.

“Việc dỡ bỏ biện pháp này cần được tiếp cận một cách thận trọng, đảm bảo đồng bộ các điều kiện cần thiết và từng bước thực hiện phù hợp với điều kiện thị trường”, Thống đốc cho hay.

Cơ chế room tín dụng được Ngân hàng Nhà nước triển khai từ năm 2011 nhằm hạn chế tình trạng tín dụng tăng trưởng nóng, tiềm ẩn nhiều rủi ro mất an toàn hệ thống (giai đoạn 2007-2010, tăng trưởng tín dụng bình quân cả hệ thống khoảng 36%/năm).

Quá trình triển khai biện pháp điều hành tăng trưởng tín dụng từ năm 2011 đến nay cho thấy, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đã giảm từ mức trên 30%/năm (cá biệt có năm tăng 53,8%) xuống còn khoảng từ 12-14%/năm trong những năm gần đây. Từ đó góp phần ổn định thị trường tiền tệ, kiểm soát và duy trì lạm phát ổn định dưới 4%.

Đồng thời, biện pháp này đã góp phần thúc đẩy các tổ chức tín dụng nâng cao năng lực quản trị, điều hành, cải thiện các chỉ số an toàn hoạt động, giảm mặt bằng lãi suất thị trường.

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả tích cực đã đạt được thì hệ thống tổ chức tín dụng vẫn còn một số vấn đề như có sự phân hóa giữa các ngân hàng, tình trạng sở hữu chéo chưa được giải quyết triệt để, tỉ lệ nợ xấu có xu hướng tăng... ảnh hưởng đến quá trình tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng nói riêng và nền kinh tế nói chung.

Đến nay, đặc thù nền kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc chủ yếu vào kênh tín dụng ngân hàng để cung ứng cho các nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, tiêu dùng.

Nhất là trong bối cảnh thị trường vốn phát triển chưa tương xứng với vai trò cung ứng vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế và hiện đang gặp nhiều khó khăn thì áp lực cân đối vốn cho nền kinh tế (đặc biệt vốn trung dài hạn) tiếp tục đè nặng lên vai hệ thống ngân hàng, tiềm ẩn rủi ro chênh lệch kỳ hạn, thanh khoản (khi tổ chức tín dụng chủ yếu huy động ngắn hạn nhưng cho vay trung dài hạn).

Trong khi đó, thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế cho thấy, thị trường vốn, thị trường chứng khoán có vai trò chủ đạo cung cấp vốn trung dài hạn cho nền kinh tế, hệ thống ngân hàng chủ yếu cung cấp vốn ngắn hạn.

Đặc thù nền kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc chủ yếu vào kênh tín dụng ngân hàng để cung ứng cho các nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh, tiêu dùng.

Trong bối cảnh đó, áp lực cung ứng vốn cho quá trình phục hồi kinh tế là rất lớn, nhu cầu vốn của nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng nên tỉ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện ở mức cao, tiềm ẩn rủi ro bất ổn vĩ mô như cảnh báo của một số tổ chức quốc tế.

Đồng thời áp lực lạm phát dù đã được kiểm soát nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro, thách thức cho công tác điều hành của Ngân hàng Nhà nước khi vừa hỗ trợ phục hồi kinh tế vừa phải đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định an toàn hệ thống tổ chức tín dụng.

Với điều kiện kinh tế đặc thù của Việt Nam như trình bày nêu trên, nếu tổ chức tín dụng tự tăng trưởng tín dụng mà không có biện pháp kiểm soát thông qua cả hệ thống các chỉ tiêu an toàn hoạt động và hạn mức tăng trưởng tín dụng, thì hệ thống tổ chức tín dụng có thể quay lại tình trạng tăng trưởng tín dụng nóng như giai đoạn trước năm 2011.

“Điều đó không chỉ tạo nợ xấu gia tăng và đe dọa sự an toàn của hệ thống ngân hàng, mà còn rủi ro gây bất ổn vĩ mô chung cho nền kinh tế, rủi ro lạm phát”, báo cáo nhấn mạnh.

Hiện nay trong quá trình điều hành, Ngân hàng Nhà nước đã và đang thực hiện kết hợp triển khai đồng bộ việc áp dụng các chỉ tiêu an toàn theo chuẩn mực quốc tế trong hoạt động của các tổ chức tín dụng với việc phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho tổ chức tín dụng qua đó ổn định thị trường tiền tệ, góp phần kiểm soát lạm phát, nâng cao năng lực quản trị, điều hành, cải thiện các chỉ số an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Đồng thời, để tiến tới và kiểm soát tín dụng thông qua các chỉ số an toàn, Ngân hàng Nhà nước đang chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện các giải pháp tái cơ cấu và xử lý nợ xấu, nâng cao chuẩn mực quản trị theo thông lệ quốc tế.

“Tuy nhiên, điều này cũng cần song hành với việc triển khai hiệu quả quá trình tái cơ cấu nền kinh tế nhằm nâng cao vai trò và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường vốn đáp ứng được nhu cầu vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào kênh vốn tín dụng ngân hàng”, Ngân hàng Nhà nước cho hay.

Xem thêm

Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước tháo gỡ nút thắt tín dụng

Thủ tướng yêu cầu tháo gỡ nút thắt tín dụng

Về tín dụng, Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước khẩn trương rà soát, hoàn thiện các quy định, điều kiện, thủ tục cho vay, bảo đảm tăng khả năng tiếp cận tín dụng của người dân, doanh nghiệp vào các lĩnh vực ưu tiên…

Có thể bạn quan tâm

Vượt khỏi tư duy cho vay, ACB “đọc” chân dung SME để đồng hành

Vượt khỏi tư duy cho vay, ACB “đọc” chân dung SME để đồng hành

SME chiếm 95% số doanh nghiệp cả nước nhưng chỉ đóng góp khoảng 20% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống. Phần lớn không phải vì không muốn vay — mà vì ngân hàng không đọc được họ. Trong khi nhiều ngân hàng than khó tìm được doanh nghiệp để cho vay ra, ACB chọn cách đi ngược: bước vào miền Bắc năm 2026 bằng cách thay đổi chính cách mình nhìn doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ông Ngô Tấn Long, Phó Tổng giám đốc ACB, trao đổi với Thương gia về khoảng trống đã tồn tại hàng chục năm và cơ chế ngân hàng đang dùng để lấp nó.

Cuộc đua vốn nội tài trợ doanh nghiệp ngoại

Cuộc đua vốn nội tài trợ doanh nghiệp ngoại

Dòng vốn FDI tiếp tục chảy mạnh vào Việt Nam đang thúc đẩy các ngân hàng tăng tốc chinh phục phân khúc khách hàng ngoại, song doanh nghiệp trong nước vẫn là động lực tăng trưởng tín dụng quan trọng nhất…

Cổ phiếu ngân hàng chạy đua bằng nội lực

Cổ phiếu ngân hàng chạy đua bằng nội lực

Triển vọng lợi nhuận tích cực cùng mặt bằng định giá hấp dẫn đang tạo dư địa cho cổ phiếu ngân hàng, song cơ hội được dự báo sẽ phân hóa mạnh giữa các nhà băng…

Thị trường vàng lại được hâm nóng

Thị trường vàng lại được hâm nóng

Giá vàng trong nước tăng mạnh trở lại theo đà phục hồi của thị trường thế giới, khi căng thẳng Mỹ - Iran có dấu hiệu nóng lên, trong khi giới đầu tư tiếp tục dõi theo triển vọng lãi suất của Fed...

Qua cơn bĩ cực, ngành bảo hiểm đón vận hội mới

Qua cơn bĩ cực, ngành bảo hiểm đón vận hội mới

Ngành bảo hiểm đang dần vượt qua giai đoạn khó khăn kéo dài, với động lực tăng trưởng mới đến từ môi trường pháp lý thông thoáng hơn, nhu cầu bảo vệ tài chính gia tăng và quá trình chuyển đổi số ngày càng được đẩy mạnh…

Chuyên gia dự báo giá vàng sẽ còn giảm tiếp

Chuyên gia dự báo giá vàng sẽ còn giảm tiếp

Giá vàng trong nước sáng 20/6 đảo chiều tăng trở lại dù thị trường thế giới tiếp tục suy yếu, trong bối cảnh Goldman Sachs bất ngờ hạ dự báo giá vàng và Fed phát đi tín hiệu duy trì lãi suất cao lâu hơn…

128.000 tỷ đồng chờ bơm vào ngân hàng, cổ phiếu nào hưởng lợi?

128.000 tỷ đồng chờ bơm vào ngân hàng, cổ phiếu nào hưởng lợi?

Ngành ngân hàng đang khởi động chu kỳ tăng vốn mạnh nhất từ trước đến nay với quy mô lên tới 128.000 tỷ đồng. Dòng vốn mới không chỉ tạo dư địa mở rộng tín dụng mà còn được kỳ vọng trở thành động lực quan trọng cho nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới…