Giá nông sản hôm nay (28/9): Giá lợn hơi dao động 57.000 - 59.000 đồng/kg, cà phê bật tăng

Bản tin cập nhật những thông tin đáng chú ý trên thị trường nông sản; giá cả các mặt hàng chủ lực như thịt lợn, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu…

Ngày 28/9, giá các mặt hàng nông sản chủ lực có xu hướng biến động không đáng kể tại thị trường trong nước.

GIÁ GẠO ỔN ĐỊNH

Giá lúa gạo hôm nay (28/9) tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long ổn định, giao dịch mua bán ít. Cụ thể, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.700 - 8.750 đồng/kg. Trong khi đó, giá lúa tươi OM 18 dao động ở mốc 5.900 - 6.100 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 dao động mốc 5.900 - 6.000 đồng/kg.

Giá gạo lại duy trì ổn định

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 hôm nay dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.700 - 8.750 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.300 - 8.600 đồng/kg. Hiện tấm thơm 3 - 4 dao động ở mức 8.500 - 8.600 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.300 - 7.650 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ giá gạo bình giá so với cuối tuần. Hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 15.500 - 16.500 đồng/kg.

Phân khúc nếp đi ngang so với hôm qua. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.

Với mặt hàng lúa, giá lúa tươi OM 18 hôm nay dao động ở mốc 5.900 - 6.100 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 dao động mốc 5.900 - 6.000 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động ở mức 5.800 - 6.000 đồng/kg; lúa tươi OM 34 dao động mốc 5.700 - 5.800 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.100 - 6.200 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang với hôm qua. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 440 - 445 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 526 - 530 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động từ 368 - 372 USD/tấn.

Tại Thái Lan, giá gạo trắng 5% tấm của nước này tiếp tục duy trì mức cao nhất trong số các nước xuất khẩu hàng đầu, khoảng 477 - 481 USD/tấn.

Giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan cũng không biến động, dao động trong khoảng 419 - 423 USD/tấn.

Tại Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm của được chào bán ở mức 375 - 379 USD/tấn; gạo đồ 5% tấm đạt 377 - 381 USD/tấn.

GIÁ CÀ PHÊ BẬT TĂNG

Giá cà phê hôm nay tại khu vực Tây Nguyên dao động trong khoảng 93.000 - 93.800 đồng/kg, gần như trở về mặt bằng của cuối tuần trước sau nhiều phiên tăng giảm mạnh. Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có giá thu mua cao nhất với 93.800 đồng/kg.

Đắk Lắk và Gia Lai cùng đứng ở mức 93.600 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng thấp nhất khu vực với 93.000 đồng/kg. Nhìn lại cả tuần, diễn biến đáng chú ý nằm ở biên độ dao động khá lớn dù mức giá đầu tuần và cuối tuần gần như không thay đổi.

Giá cà phê đảo chiều bật tăng

Trong những phiên đầu tuần, áp lực từ thị trường quốc tế khiến giá cà phê Tây Nguyên liên tục đi xuống. Đến ngày 24/9, mặt bằng thu mua từng giảm xuống chỉ còn 91.200 - 92.000 đồng/kg, thấp nhất trong gần ba tháng.

Sau khi chạm vùng giá thấp, thị trường bắt đầu xuất hiện những phiên phục hồi. Kết thúc tuần, giá tại Tây Nguyên trở lại 93.000 - 93.800 đồng/kg.

Trái với sự phục hồi của giá cà phê Tây Nguyên vào những phiên cuối tuần, thị trường kỳ hạn quốc tế vẫn ghi nhận mức giảm nếu tính chung cả tuần.

Trên sàn London, giá cà phê Robusta giao tháng 11/2026 chốt ở 3.367 USD/tấn, giảm 29 USD/tấn, tương đương 0,9% so với cuối tuần trước. Hợp đồng tháng 1/2027 giảm 31 USD/tấn, cũng tương đương khoảng 0,9%, xuống 3.342 USD/tấn.

Tại New York, giá cà phê Arabica tháng 12/2026 giảm 1,9 US cent/pound, tương đương 0,7%, còn 278,60 US cent/pound. Hợp đồng tháng 3/2027 giảm 0,7 US cent/pound, tương ứng 0,3%, xuống 271,25 US cent/pound.

GIÁ HỒ TIÊU GIẢM

Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm dao động trong khoảng 136.000 - 140.000 đồng/kg, giảm khoảng 1.000 đồng/kg so với cuối tuần trước.

Đắk Nông cũ (Lâm Đồng) tiếp tục là khu vực có giá thu mua cao nhất với 140.000 đồng/kg. Đứng tiếp theo là Đắk Lắk với mức 138.000 đồng/kg. Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) hiện giao dịch ở 136.500 đồng/kg.

Giá tiêu hôm nay tại các vùng sản xuất trọng điểm dao động trong khoảng 136.000 - 140.000 đồng/kg

Gia Lai và Đồng Nai cùng đứng ở mức 136.000 đồng/kg, thấp nhất trong số các vùng được khảo sát. Nhìn lại cả tuần, thị trường hồ tiêu trong nước trải qua những phiên đầu khá ổn định trước khi xuất hiện nhịp điều chỉnh rõ hơn vào giữa tuần.

Ngày 24/9, giá tiêu tại các vùng trọng điểm đồng loạt giảm từ 500 - 1.000 đồng/kg. Sang ngày 25/9, Đắk Nông tiếp tục giảm thêm 500 đồng/kg, từ đó đưa mức giá cao nhất trên thị trường từ 141.000 đồng/kg xuống 140.000 đồng/kg.

Trong những phiên cuối tuần, giá bắt đầu chững lại nhưng chưa xuất hiện nhịp phục hồi đáng kể.

Không chỉ thị trường nội địa, giá tiêu xuất khẩu Việt Nam cũng đi xuống trong tuần qua. Theo số liệu của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l hiện được chào bán ở mức 5.970 USD/tấn, giảm 100 USD/tấn so với cuối tuần trước.

Loại 550 g/l giảm 55 USD/tấn, xuống còn 6.075 USD/tấn. Tại Indonesia, tiêu đen cũng giảm 58 USD/tấn, còn 6.828 USD/tấn. Diễn biến trái chiều xuất hiện tại Brazil khi giá tiêu đen ASTA 570 tăng 100 USD/tấn trong tuần, lên 5.850 USD/tấn.

Malaysia không xuất hiện biến động mới, tiếp tục duy trì giá tiêu đen ở mức 9.250 USD/tấn. Đối với tiêu trắng, Muntok của Indonesia giảm 80 USD/tấn, xuống 9.348 USD/tấn.

Tiêu trắng Malaysia giữ mức 12.150 USD/tấn, trong khi sản phẩm cùng loại của Việt Nam tiếp tục được giao dịch ở 8.450 USD/tấn.

GIÁ CAO SU ỔN ĐỊNH

Giá thu mua mủ cao su trong nước hôm nay chưa ghi nhận điều chỉnh mới tại các doanh nghiệp lớn.

Cụ thể, tại Tại Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.

Giá cao su tại các doanh nghiệp lớn tại thị trường trong nước bình ổn

Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.

Công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg và giá thu mua tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) bình ổn 18.000 đồng/kg.

Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2 - loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2 - loại 1)./.

Nhìn chung giá thu mua mủ cao su trong nước hôm nay vẫn duy trì ổn định. Diễn biến này cho thấy, giá cao su trong nước chưa có sự điều chỉnh tương ứng với đà tăng trên các sàn giao dịch châu Á.

Kết thúc phiên giao dịch, giá cao su RSS3 trên sàn TOCOM (Tokyo) - Nhật Bản hợp đồng tháng 11 tăng 10.30 Yên/kg (+2,22%), lên mức 465 Yên/kg.

Trên Sàn Giao dịch Kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) - Trung Quốc, giá cao su tự nhiên giữ đà tăng mạnh tại các kỳ hạn giao hàng. Hợp đồng giao tháng 10 tăng 325 Nhân dân tệ/tấn (+1,76%), lên mức 18.740 Nhân dân tệ/tấn; hợp đồng tháng 11 tăng 425 Nhân dân tệ/tấn (+2,32%), lên mức 18.780 Nhân dân tệ/tấn.

Trên Sàn Giao dịch SGX - Singapore, hợp đồng TSR20 kỳ hạn tháng 10 ở mức 255,10 cent/kg, tăng khoảng 7,09%; hợp đồng tháng 11 ở mức 252,10 cent/kg, tăng 6,01%.

Đà tăng được hỗ trợ bởi những trở ngại ở phía nguồn cung, tuy nhiên ùn tắc tại cảng Abidjan của Bờ Biển Ngà, cùng mưa làm gián đoạn khai thác tại Thái Lan, đang góp phần giữ giá nguyên liệu ở mức cao. Đây là các yếu tố hỗ trợ trực tiếp hơn so với giả định rằng nhu cầu tiêu thụ đã tăng đột biến.

Hiệp hội các quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên đồng thời đánh giá thời tiết bất lợi có thể hạn chế nguồn cung, trong khi các nhà sản xuất lốp xe Trung Quốc vẫn thận trọng khi mua nguyên liệu. Nhu cầu lốp thay thế và sự phát triển của thị trường xe điện tạo nền tảng dài hạn, song chưa loại bỏ sức ép từ chi phí đầu vào và tăng trưởng tiêu thụ yếu.

Từ những yếu tố trên, xu hướng ngắn hạn có thể tiếp tục được nâng đỡ, nhưng khó tránh các nhịp điều chỉnh sau khi giá tăng nhanh. Nếu mưa tiếp tục cản trở khai thác và giao hàng còn ách tắc, giá có khả năng duy trì ở mặt bằng cao. Ngược lại, nguồn cung phục hồi trong khi các nhà máy hạn chế mua ở giá cao sẽ làm sức tăng suy yếu.

GIÁ THỊT LỢN ÍT BIẾN ĐỘNG

Theo khảo sát mới nhất, giá lợn hơi miền Bắc hiện dao động trong khoảng 58.000 - 59.000 đồng/kg.

Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Phú Thọ và Hưng Yên đang cùng thu mua ở mức 59.000 đồng/kg, cao nhất khu vực và cũng là mức cao nhất trên phạm vi cả nước.

Tuyên Quang, Quảng Ninh, Ninh Bình, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên và Sơn La cùng đứng tại 58.000 đồng/kg.

So với cuối tuần trước, mặt bằng giá phía Bắc đã hạ nhiệt rõ rệt. Khi đó, Thái Nguyên, Hà Nội và Hưng Yên vẫn nằm trong nhóm giao dịch ở mức 60.000 đồng/kg.

Trong những phiên giữa tuần, Bắc Ninh cũng từng tăng lên 60.000 đồng/kg, đưa số địa phương đạt ngưỡng này lên bốn.

Tuy nhiên, đà giảm xuất hiện liên tiếp trong những ngày cuối tuần đã nhanh chóng thu hẹp nhóm giá cao. Đến ngày 27/9, Hà Nội và Hưng Yên - hai địa phương cuối cùng còn giữ mức 60.000 đồng/kg - cùng giảm 1.000 đồng/kg.

Qua đó, mốc 60.000 đồng/kg chính thức biến mất khỏi thị trường lợn hơi cả nước. Diễn biến tại miền Trung - Tây Nguyên cũng tương tự khi một số địa phương giảm 1.000 đồng/kg so với cuối tuần trước.

Hiện Quảng Trị và Lâm Đồng là hai địa phương duy nhất trong khu vực giữ mức 58.000 đồng/kg. Các địa phương còn lại đồng loạt giao dịch ở 57.000 đồng/kg. Mặt bằng toàn khu vực theo đó chỉ còn 57.000 - 58.000 đồng/kg.

Tại Miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam, thị trường lợn hơi nhìn chung ít biến động nếu so với cuối tuần trước. Giá thu mua hiện dao động từ 57.000 - 58.000 đồng/kg.

Mức 58.000 đồng/kg được ghi nhận tại Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Cà Mau và Vĩnh Long cùng đứng ở mức 57.000 đồng/kg, thấp nhất khu vực.

Tính chung cả tuần, Vĩnh Long là địa phương ghi nhận mức giảm 1.000 đồng/kg, trong khi phần lớn các địa phương phía Nam giữ giá tương đối ổn định. Dù vậy, diễn biến trong từng phiên vẫn xuất hiện những nhịp tăng giảm ngắn.

Đồng Nai từng tăng lên 59.000 đồng/kg vào đầu tuần nhưng sau đó quay trở lại 58.000 đồng/kg. Một số địa phương như Đồng Tháp, An Giang, Tây Ninh và Cần Thơ cũng xuất hiện những phiên điều chỉnh trong tuần trước khi trở lại mặt bằng hiện tại.

Theo khảo sát từ trang winmart.vn giá thịt lợn ghi nhận giữ giá ổn định, niêm yết trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg. Cụ thể, thịt lợn xay là sản phẩm có giá bán thấp nhất, duy trì mức 102.322 đồng/kg. Tiếp đó là các sản phẩm thịt nạc đùi, nạc vai lợn và chân giò rút xương, với giá bán lần lượt là 122.320 đồng/kg, 126.320 đồng/kg và 127.922 đồng/kg.

Như vậy, giá thịt lợn tại WinMart hiện dao động trong khoảng 102.322 - 163.122 đồng/kg và được giảm giá 20% theo chương trình ưu đãi dành cho hội viên của WinMart.

Có thể bạn quan tâm