Khởi động dự án ACTIVE 2.0 tại Việt Nam nhằm tiếp nối các nỗ lực tăng cường chăm sóc và điều trị bệnh nhân ung thư cổ tử cung

Dự án ACTIVE 2.0 tại Việt Nam nâng cao năng lực điều trị, hợp tác quốc tế và hỗ trợ người bệnh ung thư cổ tử cung trong giai đoạn mới...

Ra mắt dự án ACTIVE 2.0

Dự án ACTIVE 2.0 (Enhancing Cervical Cancer Treatment & Patient Recovery Across Southeast Asia - Tăng cường năng lực và chất lượng điều trị ung thư cổ tử cung tại Đông Nam Á) chính thức khởi động tại Việt Nam.

Sự kiện đánh dấu bước tiếp theo trong quá trình hợp tác được triển khai từ Dự án ACTIVE 1.0, tiếp tục tập trung vào việc tăng cường năng lực chuyên môn trong nước, kết nối đội ngũ nhân viên y tế và hỗ trợ cung cấp các phương thức điều trị ung thư cổ tử cung tại Việt Nam. Sự kiện đón tiếp lãnh đạo Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế, các bệnh viện đối tác, chuyên gia lâm sàng quốc tế cùng các đối tác phát triển và đối tác kỹ thuật.

Ung thư cổ tử cung vẫn là một vấn đề sức khỏe cộng đồng cần quan tâm tại Đông Nam Á. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2022, ước tính có khoảng 160.000 ca mắc mới và 100.000 ca tử vong do ung thư cổ tử cung tại khu vực Đông Nam Á, chiếm khoảng một phần tư tổng gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu[1]. Tại Việt Nam, Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC), ước tính có 8.274 ca mắc mới và 4.110 ca tử vong do ung thư cổ tử cung trong năm 2024[2].

Trong bối cảnh đó, các nỗ lực củng cố toàn bộ quy trình chăm sóc ung thư cổ tử cung - từ dự phòng, phát hiện sớm, điều trị và theo dõi sau điều trị - giữ vai trò quan trọng. Dự án ACTIVE 2.0 đóng góp vào những nỗ lực chung này thông qua các hoạt động phát triển chuyên môn và trao đổi kiến thức trong các lĩnh vực liên quan đến xạ trị ung thư cổ tử cung, đồng thời nghiên cứu các phương thức hỗ trợ người bệnh trong quá trình phục hồi. Dự án nhận định rằng việc tăng cường năng lực điều trị không chỉ đòi hỏi công nghệ, mà còn cần sự đầu tư dài hạn vào kiến thức, kỹ năng và mạng lưới chuyên môn của đội ngũ y tế.

Dự án ACTIVE 2.0 nhận được sự hỗ trợ từ Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức (BMZ), Quỹ DEG Impulse thuộc Ngân hàng Tái thiết CHLB Đức (Kreditanstalt für Wiederaufbau - KfW), Elekta, Liên đoàn các Tổ chức Ung thư học Bức xạ châu Á - Federation of Asian Organizations for Radiation Oncology (FARO) và Tổ chức Asia Society for Social Improvement and Sustainable Transformation (ASSIST) hỗ trợ triển khai. Dự án kéo dài 3 năm với sự tham gia của các cơ sở y tế, chuyên gia lâm sàng, đối tác kỹ thuật và đối tác phát triển từ 6 quốc gia Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Lào và Campuchia.

Tại Việt Nam, Dự án ACTIVE 2.0 kế thừa kinh nghiệm từ ACTIVE 1.0, được triển khai cùng ba bệnh viện chuyên khoa ung bướu gồm Bệnh viện K (Hà Nội), Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng và Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh. Trong giai đoạn mới, dự án sẽ tiếp tục phối hợp với các bệnh viện này để triển khai đào tạo chuyên môn và tạo điều kiện trao đổi kiến thức lâm sàng, qua đó tiếp tục hỗ trợ phát triển năng lực của đội ngũ nhân viên y tế trong điều trị ung thư cổ tử cung. Kinh nghiệm và kiến thức được hình thành thông qua các hoạt động này là tiền đề cho việc mở rộng trao đổi chuyên môn với các bệnh viện và nhân viên y tế trong nước và trong khu vực.

Các hoạt động đào tạo và trao đổi kiến thức sẽ tập trung vào xạ trị áp sát thích ứng có hướng dẫn hình ảnh (IGABT) và xạ trị ngoài, cùng với các nội dung về quản lý điều trị ung thư cổ tử cung. Các chuyên gia lâm sàng quốc tế và đối tác chuyên môn sẽ tham gia trao đổi kiến thức và kinh nghiệm lâm sàng. Bên cạnh đó, dự án sẽ nghiên cứu các giải pháp số nhằm hỗ trợ theo dõi, chăm sóc người bệnh sau điều trị.

TS.BS Tống Trần Hà, Phó Cục trưởng, Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế

“Việt Nam luôn chú trọng công tác phòng, chống ung thư, phát hiện sớm, điều trị và chăm sóc người bệnh”, TS.BS Tống Trần Hà, Phó Cục trưởng, Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế cho biết. “Chúng tôi hoan nghênh việc tiếp tục triển khai các hoạt động trong khuôn khổ Dự án ACTIVE 2.0, đặc biệt là những cơ hội để đội ngũ nhân viên y tế tiếp tục nâng cao kiến thức và trao đổi kinh nghiệm lâm sàng trong chăm sóc và điều trị ung thư cổ tử cung”.

“Việc đạt được các mục tiêu đến năm 2030, gồm 90% trẻ em gái được tiêm vắc-xin HPV, 70% phụ nữ được sàng lọc ung thư cổ tử cung và 90% phụ nữ ung thư được tiếp cận điều trị, sẽ giúp Việt Nam loại trừ hiệu quả ung thư cổ tử cung vào năm 2055, đồng thời ngăn ngừa hơn 300.000 ca tử vong vào cuối thế kỷ này. Dự án ACTIVE 2.0 sẽ cùng đóng góp vào những nỗ lực chung để thực hiện mục tiêu này”, Ông Matt Jackson, Trưởng Đại diện Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) tại Việt Nam, cho biết.

Sự kiện khởi động dự án cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp tục hợp tác quốc tế và trao đổi chuyên môn trong khu vực nhằm hỗ trợ công tác chăm sóc và điều trị ung thư cổ tử cung.

Ông Michael Swen Lehmann, Bí thư thứ hai Phó Phòng Hợp tác Phát triển, Đại sứ quán Đức tại Hà Nội

“Thật có ý nghĩa khi các đối tác Việt Nam và quốc tế cùng nhau trao đổi kiến thức và tăng cường năng lực chuyên môn trong chăm sóc và điều trị bệnh nhân ung thư cổ tử cung. Dự án ACTIVE 2.0 tạo điều kiện để các chuyên gia lâm sàng và nhân viên y tế chia sẻ kinh nghiệm, đồng thời tiếp nối quá trình hợp tác đang được triển khai trong lĩnh vực này”, ông Michael Swen Lehmann, Bí thư thứ hai/Phó Phòng Hợp tác Phát triển, Đại sứ quán Đức tại Hà Nội, Việt Nam, cho biết.

“Dự án ACTIVE 2.0 tại Việt Nam kế thừa thành quả hợp tác và những kinh nghiệm được hình thành từ giai đoạn trước của dự án,” ông Paul Lee, Giám đốc Dự án ACTIVE 2.0, cho biết. “Thông qua việc tiếp tục phối hợp với các bệnh viện và đội ngũ nhân viên y tế tại Việt Nam, chúng tôi mong muốn hỗ trợ các hoạt động đào tạo lâm sàng và trao đổi kiến thức, đồng thời góp phần vào những nỗ lực đang được thực hiện trong điều trị bệnh nhân ung thư cổ tử cung”.

Ông Paul Lee Giám đốc dự án ACTIVE 2.0

ACTIVE 2.0 hướng tới việc nâng cao năng lực, kiến thức và kết nối chuyên môn, đồng thời tiếp tục duy trì và phát triển nền tảng này hơn là các hoạt động đào tạo đơn thuần. Tại Việt Nam, dự án kỳ vọng đóng góp vào các nỗ lực dài hạn nhằm tăng cường công tác chăm sóc và điều trị bệnh nhân ung thư cổ tử cung, phù hợp với định hướng chung về y tế và sức khỏe cộng đồng của quốc gia.

Có thể bạn quan tâm