Thuốc ngủ thường được xem là giải pháp giúp cải thiện tình trạng mất ngủ và mang lại cảm giác nghỉ ngơi sau những đêm trằn trọc. Thế nhưng, việc sử dụng các loại thuốc này thường xuyên, đặc biệt trong thời gian dài, có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với sức khỏe.
ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP ĐẾN NÃO BỘ VÀ TÂM LÝ
Thuốc ngủ có thể giúp dễ đi vào giấc ngủ nhưng đôi khi lại khiến cơ thể mệt mỏi, uể oải vào ngày hôm sau. Tác dụng phụ thường gặp là hiệu ứng dư âm với các biểu hiện như buồn ngủ, chóng mặt, đầu óc thiếu tỉnh táo và giảm khả năng phối hợp vận động.
Những triệu chứng này có thể ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt và các hoạt động thường ngày. Theo Consumer Reports, khoảng 3% người sử dụng thuốc hỗ trợ giấc ngủ thậm chí ngủ gật khi đang lái xe.
Nguyên nhân là nhiều loại thuốc ngủ kê đơn bao gồm nhóm benzodiazepine như diazepam (Valium), lorazepam (Ativan) và nhóm không thuộc benzodiazepine như zolpidem (Ambien), eszopiclone (Lunesta), đều tác động lên thụ thể GABA trong não.
Cơ chế này làm chậm hoạt động của não bộ và hệ thần kinh trung ương. Do thuốc có thể tồn tại trong cơ thể nhiều giờ, tác dụng an thần đôi khi vẫn kéo dài đến ngày hôm sau.
Bên cạnh đó, nhiều loại thuốc hỗ trợ giấc ngủ không kê đơn như Benadryl và Tylenol PM có chứa diphenhydramine. Tiến sĩ Donovan Maust, trợ lý giáo sư tâm thần học tại Michigan Medicine, giải thích rằng chất này ngăn chặn acetylcholine, chất dẫn truyền thần kinh đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của hệ thần kinh phó giao cảm, khả năng kiểm soát cơ bắp và duy trì sự tỉnh táo của não bộ.
Không chỉ gây buồn ngủ kéo dài, thuốc ngủ còn có thể khiến chất lượng giấc ngủ không được như mong đợi. Matthew Walker, giáo sư khoa học thần kinh và tâm lý học tại Đại học California, cho biết người sử dụng có thể cảm thấy mình đã ngủ ngon nhưng thực tế giấc ngủ do thuốc tạo ra không có độ sâu và khả năng phục hồi tương đương giấc ngủ tự nhiên.
Theo ông, thuốc ngủ tác động lên một số thụ thể trong não, làm giảm hoạt động của tế bào thần kinh và đưa cơ thể vào trạng thái bất tỉnh. Trong khi đó, giấc ngủ tự nhiên là một quá trình phức tạp, đòi hỏi nhiều vùng não phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động và nghỉ ngơi.
Việc sử dụng thuốc ngủ, đặc biệt là zolpidem (Ambien), còn có thể ảnh hưởng đến trí nhớ. Một nghiên cứu đăng trên Journal of the American Academy of Psychiatry and the Law ghi nhận người dùng zolpidem có thể bị suy giảm trí nhớ và thực hiện những hành vi bất thường vào ban đêm nhưng không nhớ gì sau khi tỉnh dậy. Một số trường hợp còn gặp chứng rối loạn hành vi liên quan đến giấc ngủ, chẳng hạn như ăn uống hoặc đi lại trong lúc ngủ.
Ngoài ra, thuốc ngủ có thể cản trở quá trình củng cố trí nhớ trong khi ngủ. Các thuốc gây ngủ thuộc nhóm benzodiazepine có khả năng ức chế giấc ngủ sóng chậm và giấc ngủ REM, từ đó làm giảm hiệu quả phục hồi của giấc ngủ và ảnh hưởng đến khả năng học tập, ghi nhớ.
Một số loại thuốc ngủ và thuốc an thần ảnh hưởng đến trí nhớ và khả năng phối hợp vận động chỉ vài giờ sau khi sử dụng. Tác động này có thể rõ rệt hơn ở phụ nữ do cơ thể cần nhiều thời gian hơn để chuyển hóa một số thành phần hoạt tính của thuốc.
Đáng lo ngại hơn, việc sử dụng thuốc ngủ kéo dài còn được cho là có liên quan đến nguy cơ suy giảm nhận thức và sa sút trí tuệ.
Hai nhóm thuốc được đặc biệt quan tâm là benzodiazepine và thuốc kháng cholinergic (theo Harvard Health Publishing). Trong đó, thuốc kháng cholinergic hoạt động bằng cách ức chế acetylcholine, chất dẫn truyền thần kinh đóng vai trò quan trọng đối với trí nhớ và khả năng học tập.
Một số nghiên cứu cho thấy việc sử dụng những loại thuốc này có thể liên quan đến nguy cơ sa sút trí tuệ và các biểu hiện suy giảm nhận thức như mất phương hướng, kém tập trung, hay quên. Đáng chú ý, những ảnh hưởng tiềm ẩn này vẫn được ghi nhận ngay cả khi thuốc đã được sử dụng từ 15 - 20 năm trước đó.
Việc sử dụng thuốc ngủ thường xuyên cũng tác động tiêu cực đến tâm trạng, đặc biệt ở những người đang gặp vấn đề về tâm lý hoặc cảm xúc. Một nghiên cứu năm 2016 đăng trên Mayo Clinic Proceedings cho thấy zolpidem có thể làm tăng nguy cơ tự sát.
Nghiên cứu trên F1000Research cũng ghi nhận mối liên hệ giữa các thuốc tác động lên thụ thể benzodiazepine có thời gian tác dụng ngắn như zolpidem và triazolam, với các cơn hoảng loạn.
Các tác giả nghiên cứu cảnh báo zolpidem có thể liên quan đến một số trường hợp tự sát, trong đó có những trường hợp xuất hiện hành vi phân ly do thuốc gây ra hoặc do sử dụng kết hợp với các loại thuốc khác và rượu bia.
Tuy nhiên, thuốc ngủ không phải lúc nào cũng gây tác động tiêu cực. Nghiên cứu năm 2019 trên The American Journal of Psychiatry cho thấy khi được kê đơn phù hợp cùng thuốc chống trầm cảm, một số loại thuốc gây ngủ có thể giúp cải thiện chất lượng giấc ngủ và giảm tình trạng mất ngủ ở người mắc chứng trầm cảm.
Một tác dụng phụ đáng chú ý khác là nguy cơ xuất hiện ảo giác. Bản thân tình trạng mất ngủ mãn tính đã có thể gây biến dạng nhận thức giác quan, thậm chí dẫn đến ảo giác.
Việc sử dụng zolpidem thường xuyên được ghi nhận có liên quan đến các cơn loạn thần. Một nghiên cứu năm 2019 mô tả trường hợp bệnh nhân ngoài 70 tuổi xuất hiện ảo giác sau khi dùng loại thuốc này. Những nghiên cứu trước đó cũng ghi nhận các phản ứng loạn thần, bao gồm ảo giác thính giác, ảo giác thị giác và suy nghĩ hoang tưởng.
Zolpidem còn được liên hệ với một số hành vi và trải nghiệm bất thường, đôi khi được gọi là hiện tượng Ambien walrus. Dù cơ chế chính xác chưa được xác định, các nhà nghiên cứu cho rằng hiện tượng này có thể liên quan đến tác dụng gây ngủ của thuốc thông qua việc tác động lên chất dẫn truyền thần kinh GABA.
HỆ LỤY ĐỐI VỚI SỨC KHỎE THỂ CHẤT
Thuốc ngủ có thể làm tăng nguy cơ té ngã, đặc biệt ở người lớn tuổi, do gây buồn ngủ và ảnh hưởng đến khả năng giữ thăng bằng. Những tác động này dễ dẫn đến tai nạn khi thức dậy giữa đêm hoặc vào buổi sáng, thậm chí gây chấn thương nghiêm trọng và gãy xương hông.
Một nghiên cứu đăng trên Journal of the American Geriatrics Society cho thấy zolpidem làm suy giảm khả năng giữ thăng bằng ở cả người trẻ và người lớn tuổi sau khi thức dậy từ giấc ngủ kéo dài hai giờ.
Kenneth P. Wright, một trong những tác giả nghiên cứu cảnh báo các loại thuốc gây ngủ không thuộc nhóm benzodiazepine có thể gây ra những rủi ro đối với sức khỏe và sự an toàn lớn hơn so với nhận định trước đây, trong đó té ngã vào ban đêm là mối lo ngại đáng chú ý.
Tuy nhiên, Lawrence Epstein, cựu chủ tịch Học viện Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ, lưu ý rằng các nghiên cứu hiện nay vẫn chưa thống nhất về mối liên hệ giữa thuốc ngủ và nguy cơ té ngã.
Không chỉ ảnh hưởng đến khả năng vận động, một số loại thuốc ngủ còn có thể tác động đến sức khỏe tim mạch. Nghiên cứu tại Nhật Bản do bác sĩ Masahiko Setoguchi thuộc Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Bảo hiểm Xã hội ở Tokyo thực hiện cho thấy bệnh nhân suy tim sử dụng thuốc gây ngủ nhóm benzodiazepine có nguy cơ suy tim nghiêm trọng hoặc tử vong do biến chứng tim mạch cao gấp tám lần so với người không sử dụng thuốc.
Các nhà nghiên cứu cho rằng benzodiazepine có thể ảnh hưởng tiêu cực đến chức năng tim và hô hấp. Theo Setoguchi, nhóm thuốc này có khả năng ức chế hoạt động của tim, đồng thời làm suy giảm hô hấp, khiến tình trạng rối loạn hô hấp khi ngủ trở nên nghiêm trọng hơn và làm xấu đi tiên lượng bệnh.
Việc sử dụng thuốc ngủ thường xuyên cũng làm suy yếu hệ miễn dịch. Một bài tổng quan năm 2016 phân tích hơn 200 nghiên cứu về thuốc điều trị rối loạn giấc ngủ cho thấy người sử dụng thuốc an thần có nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng cao hơn.
Đáng chú ý, các thử nghiệm lâm sàng ghi nhận tỷ lệ nhiễm trùng ở nhóm dùng thuốc gây ngủ cao hơn 44% so với nhóm dùng giả dược. Nhà sản xuất zolpidem cũng từng thừa nhận khả năng loại thuốc này làm tăng nguy cơ nhiễm trùng dựa trên kết quả nghiên cứu của chính mình.
Bên cạnh đó, nghiên cứu đăng trên tạp chí Thorax cho thấy thuốc ngủ nhóm benzodiazepine có thể làm tăng nguy cơ mắc viêm phổi lên tới 50%. Một trong những nguyên nhân được đưa ra là việc sử dụng thuốc có thể làm gián đoạn giấc ngủ sâu và giấc ngủ REM, hai giai đoạn quan trọng đối với quá trình phục hồi, tái tạo tế bào miễn dịch và hình thành các tế bào miễn dịch mới. Khi chất lượng giấc ngủ suy giảm, khả năng bảo vệ cơ thể trước các tác nhân gây bệnh cũng có thể bị ảnh hưởng.
Không chỉ vậy, hệ tiêu hóa có thể chịu tác động từ việc sử dụng thuốc ngủ. Nhiều người dùng gặp các triệu chứng như tiêu chảy, buồn nôn, táo bón, đau bụng hoặc khó chịu ở dạ dày.
Một nghiên cứu năm 2017 đăng trên PLoS One còn cho thấy người thường xuyên sử dụng zolpidem có nguy cơ nhiễm vi khuẩn Clostridium difficile cao hơn. Loại vi khuẩn này sản sinh độc tố, có thể gây viêm đại tràng và tiêu chảy mãn tính.
Ngoài ra, zolpidem có thể làm tăng tình trạng trào ngược axit dạ dày, gây tổn thương niêm mạc thực quản. Nghiên cứu đăng trên Clinical Gastroenterology and Hepatology tại Bệnh viện Đại học Thomas Jefferson cho thấy người sử dụng zolpidem gặp tình trạng trào ngược axit vào ban đêm nhiều hơn bình thường nhưng vẫn ngủ xuyên đêm mà không nuốt.
Trong khi đó, phản xạ nuốt đóng vai trò bảo vệ thực quản trước tác động của axit trào ngược. Nếu tình trạng này kéo dài mà không được điều trị, axit có thể làm tổn thương niêm mạc thực quản và tăng nguy cơ ung thư thực quản.
Đáng lo ngại hơn, một số nghiên cứu còn đặt ra mối liên hệ giữa việc sử dụng thuốc ngủ và nguy cơ mắc ung thư. Nghiên cứu đăng trên BMJ Open ghi nhận người sử dụng zolpidem, kể cả với liều lượng từ 1 - 18 viên, có nguy cơ tử vong sớm cao hơn người không dùng thuốc ngủ.
Đặc biệt, những người sử dụng trên 132 viên/năm có nguy cơ mắc ung thư mới cao gấp ba lần bao gồm ung thư phổi, đại tràng và tuyến tiền liệt. Nguy cơ tử vong ở nhóm này cũng cao gấp năm lần.
RÚT NGẮN TUỔI THỌ
Việc sử dụng thuốc ngủ kéo dài khiến cơ thể dần hình thành khả năng dung nạp thuốc, khiến hiệu quả giảm sút và buộc phải tăng liều để đạt được tác dụng tương tự.
Điều này không chỉ làm tăng nguy cơ lệ thuộc thuốc mà còn có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như thở nông, hôn mê, thậm chí tử vong trong một số trường hợp.
Một nghiên cứu tổng quan năm 2016 đăng trên F1000Research cho thấy người thường xuyên sử dụng thuốc gây ngủ có tỷ lệ tử vong cao hơn. Các nguyên nhân được ghi nhận bao gồm quá liều, suy hô hấp, tương tác thuốc nguy hiểm, thậm chí cả những trường hợp bị sát hại.
Tương tự, nghiên cứu đăng trên BMJ Open cho thấy người sử dụng thuốc ngủ ít nhất 2 - 3 ngày mỗi tuần có nguy cơ tử vong cao gấp ba lần so với người không sử dụng.
Tình trạng tử vong sớm có thể liên quan đến nhiều nguyên nhân như tai nạn, chấn thương, trào ngược dạ dày – thực quản, loét dạ dày tá tràng và các biến chứng nhiễm trùng.