Các ông lớn dầu khí thế giới: Hết nạc thì vạc đến xương!

Cuộc khủng hoảng ở Trung Đông đã buộc các tập đoàn dầu khí quốc tế xem xét lại thứ tự ưu tiên của mình. Những địa điểm khoan dầu trước đây không hấp dẫn nay bỗng trở nên hấp dẫn trở lại. Alaska, một vùng đất băng giá đã từng bị coi như miếng "gân gà" nay cũng tấp nập trở lại...

Từ Hormuz đến Alaska – cuộc đua sinh tồn của ngành dầu khí toàn cầu

Alaska, vùng sản xuất dầu khí lâu đời nhất của Hoa Kỳ trong nhiều năm qua đã không còn được chú ý nhiều khi ngành công nghiệp này chuyển sang các địa điểm mà chi phí khai thác rẻ hơn và phát triển nhanh hơn. Tin tức đáng chú ý duy nhất về Alaska gần đây là việc chính quyền của cựu tổng thống Biden phê duyệt dự án Willow, do ConocoPhillips dẫn đầu, dự kiến ​​sẽ tăng sản lượng dầu của tiểu bang thêm 160.000 thùng mỗi ngày, và dự án Pikka của công ty Santos (Úc), dự kiến ​​bắt đầu sản xuất thương mại trong năm nay. Giờ đây, các tập đoàn dầu khí lớn đang rất muốn khoan thăm dò ở Alaska.

Đầu tháng này, một cuộc đấu giá quyền khai thác tại Khu dự trữ dầu khí quốc gia ở Alaska đã thu hút số lượng hồ sơ dự thầu kỷ lục, với tổng giá trị lên tới 163 triệu USD. Trong số các nhà thầu có Exxon, Shell và Repsol, trong đó Repsol đã hợp tác với Santos trong dự án phát triển Pikka. Theo các chuyên gia, sự "náo nhiệt" mới chỉ bắt đầu tại vùng đất băng giá này.

Cục Quản lý Đất đai (Bureau of Land Management) đã chào bán 625 khu đất trải rộng trên khoảng 5,5 triệu mẫu Anh trong đợt đấu thầu, được chính quyền Tổng thống Trump khôi phục vào cuối năm ngoái. Không có đợt đấu thầu cho thuê nào được tổ chức tại Khu dự trữ dầu mỏ quốc gia ở Alaska dưới thời Tổng thống Biden. Tuy nhiên, theo Đạo luật "One Big Beautiful Bill Act - OBBBA" mà ông Trump ký ngày 4/7/2025, sẽ có tổng cộng năm đợt đấu thầu cho thuê ở Alaska trong mười năm tới.

Với việc dự án Pikka sắp đi vào hoạt động ở North Slope, sự đảo ngược xu hướng giảm sản lượng dầu ở bang Alaska sẽ giúp đưa thêm dầu vào khu vực Thái Bình Dương vào thời điểm quan trọng”, ông Francisco Gea, người đứng đầu bộ phận khai thác thượng nguồn của Repsol, cho biết.

Ông Gea gọi Alaska là “một cơ hội tuyệt vời”. Dự án Pikka, với tổng vốn đầu tư 4,5 tỷ USD, sẽ sản xuất tới 80.000 thùng dầu mỗi ngày.

Đây quả thực là một cơ hội tuyệt vời, ít nhất là vì nó không nằm gần Trung Đông và do đó là một điểm đến thăm dò năng lượng vô cùng an toàn. Ngoài ra, Canada cũng đang ở trong tình thế tương tự: người đứng đầu Cơ quan Năng lượng Quốc tế hồi đầu tháng này đã phát biểu tại một sự kiện trong ngành rằng Canada có cơ hội vàng để trở thành nhà cung cấp năng lượng an toàn trong bối cảnh thế giới hiện đang thiếu hụt 14 triệu thùng dầu mỗi ngày do cuộc khủng hoảng ở Trung Đông.

Dự án Pikka, với tổng vốn đầu tư 4,5 tỷ USD, sẽ sản xuất tới 80.000 thùng dầu mỗi ngày.

Như vậy, an ninh chính là yếu tố thúc đẩy các tập đoàn dầu khí lớn quay trở lại miền Bắc – ngay cả Shell, công ty đã rời đi vào năm 2015 sau khi phải xóa sổ khoản lỗ lên tới 7 tỷ USD từ một chiến dịch khoan không thành công, bị cản trở bởi sự phản đối mạnh mẽ từ các nhà hoạt động môi trường. Theo Financial Times, quyết định tham gia vào đợt đấu giá quyền khai thác dầu khí ở Alaska gần đây của tập đoàn siêu lớn này đã gây bất ngờ cho các nhà phân tích.

Tuy nhiên, theo giám đốc điều hành Wael Sawan, việc bán quyền khai thác liên quan đến một khu vực khác của tiểu bang. Ông nói cho biết: “Đây là một khu vực rất, rất, rất khác của Alaska mà chúng tôi đã đến. Đây là cơ hội thăm dò trên đất liền trong một lưu vực đã được khai thác lâu năm… Vì vậy, đây không phải là ngoài khơi Alaska, nơi chúng tôi đã gặp nhiều khó khăn trong quá khứ.”

Trong thời điểm khó khăn của ngành dầu khí hiện nay, dầu thô không phải là yếu tố duy nhất thu hút ngành năng lượng đến Alaska. Khí đốt cũng là một thỏi nam châm – trong trường hợp này, đó là dự án khí hóa lỏng Alaska (Alaska LNG). Sự quan tâm đến dự án xuất khẩu Alaska LNG đã tăng vọt kể từ khi cuộc chiến ở Trung Đông làm gián đoạn 20% nguồn cung LNG toàn cầu và khiến người mua châu Á phải tranh giành những lô hàng giao ngay đắt đỏ.

Tập đoàn Glenfarne, chủ sở hữu và nhà phát triển chính của cơ sở này, đặt mục tiêu sớm ký kết các thỏa thuận mua bán ràng buộc với người mua và đẩy nhanh các quyết định đầu tư cuối cùng vào cuối năm 2026 và đầu năm 2027, các giám đốc điều hành của công ty cho biết với giới truyền thông hồi đầu năm nay bên lề một hội nghị năng lượng ở Tokyo.

“Có một sự quan tâm thực sự, đặc biệt là với tất cả những gì đang xảy ra ở Trung Đông hiện nay. Ai cũng muốn biến những thỏa thuận sơ bộ đó thành các thỏa thuận dài hạn”, Adam Prestidge, chủ tịch của Glenfarne Alaska LNG, nói với Reuters vào tháng 3.

Dự án Alaska LNG kỳ vọng xây dựng một đường ống dài 800 dặm đi qua bang này từ Sườn Bắc ở Vòng Bắc Cực đến Vịnh Cook ở phía Nam, nơi khí đốt sẽ được làm hóa lỏng để xuất khẩu sang châu Á. Với chi phí “khủng” lên tới 40 tỷ USD...

Dự án Alaska LNG được thiết kế để cung cấp khí đốt tự nhiên từ vùng North Slope cho người dân Alaska và xuất khẩu khí hóa lỏng (LNG) sang các đồng minh của Mỹ ở bên kia Thái Bình Dương. Một đường ống dài 800 dặm (khoảng 127 km) dự kiến ​​sẽ vận chuyển khí đốt từ các trung tâm sản xuất ở North Slope đến khu vực trung nam Alaska để xuất khẩu. Ngoài ra, nhiều điểm kết nối khí đốt sẽ đảm bảo đáp ứng nhu cầu khí đốt trong tiểu bang.

Dự án Alaska LNG có ba hạng mục chính gồm đường ống, một nhà máy xử lý khí ở Sườn Bắc và một nhà máy hóa lỏng khí để xuất khẩu tại Nikiski, Alaska. Các cơ sở này ước tính có chi phí lần lượt là khoảng 12 tỷ USD, 10 tỷ USD và 20 tỷ USD, Thống đốc Dunleavy cho biết tại hội nghị năng lượng ở Houston vào tháng 3/2025.

Theo ông CEO Dunval, giấy phép cho Alaska LNG đã có hiệu lực và Glenfarne dự kiến ​​sẽ đưa ra quyết định đầu tư cuối cùng trong vòng 6 - 12 tháng tới cho giai đoạn đầu tiên của dự án. Việc xây dựng nhà máy LNG dự kiến ​​sẽ bắt đầu vào cuối năm 2026. Mục tiêu là hoàn thành việc xây dựng toàn bộ dự án Alaska LNG trong 4 năm rưỡi với hoạt động thương mại đầy đủ bắt đầu từ năm 2031.

Theo dữ liệu từ Kpler, một công ty nghiên cứu thị trường hàng hóa cơ bản, Alaska LNG có kế hoạch sản xuất 20 triệu tấn LNG mỗi năm, tương đương khoảng 23% trong tổng số 87 triệu tấn LNG mà Mỹ xuất khẩu năm 2024.

Alaska đóng vai trò trung tâm trong mục tiêu thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu dầu khí Mỹ của ông Trump - một phần trong chương trình nghị sự của Nhà Trắng về “sự thống trị năng lượng” của Mỹ. Vị Tổng thống đã ban hành một sắc lệnh hành pháp vào ngày đầu tiên nhậm chức nhằm khai thác “tiềm năng tài nguyên phi thường” của Alaska, ưu tiên phát triển LNG tại tiểu bang này.

Từng là nước nhập khẩu ròng LNG, Mỹ đã nhanh chóng trở thành nước xuất khẩu LNG lớn nhất thế giới, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc cung cấp nhiên liệu cho các nhà máy điện ở châu Á và châu Âu của các đồng minh có nguồn năng lượng trong nước hạn chế. Ví dụ điển hình là Nhật Bản và Hàn Quốc, mỗi nước chiếm khoảng 8% lượng LNG xuất khẩu của Mỹ năm 2024, theo dữ liệu của Kpler.

Chính quyền ông Trump coi Alaska LNG là “một dự án chiến lược quan trọng”, Bộ trưởng Nội vụ Mỹ Doug Burgum cho biết tại hội nghị năng lượng ở Houston. LNG xuất khẩu từ Alaska sẽ đến Nhật Bản trong thời gian khoảng 8 ngày thay vì phải đi qua kênh đào Panama đông đúc trên các chuyến tàu chở LNG xuất phát từ các cảng ở vùng Bờ Vịnh, ông Dunleavy cho biết tại hội nghị nêu trên.

“Họ có thể có cơ hội nhận được LNG một cách hiệu quả nhất từ ​​một đối tác đồng minh”, đồng thời tránh được các điểm tắc nghẽn. “Đây là dự án LNG duy nhất mà Mỹ có thể cung cấp theo tuyến đường trực tiếp và họ nhận thức rất rõ điều đó trong môi trường hiện nay”, ông Duval cho biết.

Trong cuộc họp báo chung với Thủ tướng Nhật Bản Shigeru Ishiba vào tháng 2/2025, ông Trump nói rằng hai nước đang thảo luận về đường ống dẫn khí đốt từ Alaska tới Nhật Bản và khả năng thành lập một liên doanh khai thác dầu khí tại Alaska. Ông Trump cũng cho biết ông đã thảo luận về việc Nhật “mua LNG Mỹ trên quy mô lớn” trong cuộc điện đàm ngày 8/4/2025 với quyền Tổng thống Hàn Quốc Han Duck-Soo và sự tham gia của Hàn Quốc vào “một liên doanh trong đường ống Alaska”.

Những diễn biến mới nhất ở Alaska cho thấy rõ ràng cuộc chiến ở Trung Đông đã đưa vấn đề an ninh năng lượng trở lại tâm điểm chú ý, khiến những địa điểm từng gặp khó khăn nay lại trở nên hấp dẫn. Theo Amin Nasser của Aramco, ước tính khoảng 1 tỷ thùng dầu đã bị mất khỏi thị trường kể từ khi chiến tranh bắt đầu, do đó các nguồn cung thay thế đang trở nên cấp thiết, không chỉ trong ngắn hạn. Ngay cả khi eo biển Hormuz sớm mở cửa trở lại – điều mà hiện tại dường như khó xảy ra – an ninh năng lượng rất có thể vẫn sẽ là ưu tiên hàng đầu đối với cả nhà sản xuất năng lượng và người tiêu dùng.

Có thể bạn quan tâm