Mỹ cũng lúng túng trong việc kiểm soát Uber

Theo ông Vũ Tú Thành, Phó Giám đốc điều hành Khu vực, Hội đồng kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN, không chỉ Việt Nam mà cả Mỹ, nơi Uber khai sinh, cũng lúng túng trong việc kiểm soát nền tảng công nghệ này.
Mỹ cũng lúng túng trong việc kiểm soát Uber

Hội thảo "Mô hình kinh tế chia sẻ: Kinh nghiệm và bài học cho Việt Nam" diễn ra sáng nay (15/12/2017) đã thảo luận về kinh tế chia sẻ và phương hướng giải quyết các vấn đề do mô hình này đem lại. Chương trình do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương tổ chức.

Đến nay, kinh tế chia sẻ đã xuất hiện ở tất cả các châu lục. Doanh thu toàn cầu của các công ty sử dụng mô hình kinh tế chia sẻ hiện đạt 15 tỷ USD, dự báo đến năm 2035 con số này sẽ tăng 22 lần, đạt 335 tỷ USD. Mặc dù phát triển mạnh mẽ tại nhiều nước nhưng phản ứng chính sách của các quốc gia đối với mô hình này lại rất khác nhau. Tại hội thảo, bà Nguyễn Thị Tuệ Anh - Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đã nêu ra một số ví dụ.

Ở Hàn Quốc, mô hình kinh tế chia sẻ được coi là công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề đô thị như tắc nghẽn giao thông. Chính phủ Hàn Quốc có mục tiêu xây dựng thành phố chia sẻ Seoul. Để làm được điều đó, Hàn Quốc ra quy định thúc đẩy kinh tế chia sẻ, hỗ trợ các doanh nghiệp với một số tiêu chí nhất định, rà soát sửa đổi luật và quy định hiện hành và thực hiện nhiều biện pháp khác.

Singapore cũng là quốc gia khá cởi mở với mô hình kinh tế mới này. Chính phủ Singapore xem đây là cơ hội để phát triển bền vững, giảm mua sắm và rác thải. Dần dần, các điều chỉnh và các quy định mang tính điều kiện ra đời để vừa thúc đẩy vừa kiểm soát kinh tế chia sẻ. Ví dụ, đối với dịch vụ cho thuê nhà, nước này có quy định về thời hạn cho thuê, giới hạn số người được ở chung trong từng loại nhà.

Tại Úc, cơ quan thuế tích cực giải quyết các vấn đề thuế. Quy định về thuế với mô hình kinh tế chia sẻ là một mục riêng trên website của Cục thuế liên bang.

Tại Việt Nam, câu chuyện về thuế hay cạnh tranh giữa Uber, Grab với taxi truyền thống vẫn rất nóng trong thời gian qua. Có thể thấy, Uber hay Grab chỉ là một ví dụ của nền kinh tế chia sẻ đang phát triển mạnh mẽ. Và Việt Nam không phải quốc gia duy nhất đau đầu với vấn đề này.

Theo ông Vũ Tú Thành, Phó Giám đốc điều hành Khu vực, Hội đồng kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN, không chỉ Việt Nam mà cả Mỹ, nơi Uber khai sinh, cũng lúng túng trong việc kiểm soát nền tảng công nghệ này. Tại Mỹ, mỗi bang lại có quy định khác nhau. New York coi đây là một hãng taxi nên buộc phải tuân thủ nhiều điều kiện ngặt nghèo, nhưng rốt cục bang này cũng không quản lý được.

San Francisco cởi mở hơn, coi Uber là loại hình vận tải đặc thù. Chỉ có tại Washington, D.C thì Uber mới được coi là một loại hình hoàn toàn mới, thành phố này có các điều khoản riêng đảm bảo địa vị pháp lý cho Uber. Vì vậy, hoạt động kinh doanh của Uber ở đây khá ổn định.

Ông Nguyễn Văn Vịnh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Phát triển, nêu quan điểm: “Bản chất của nền kinh tế chia sẻ hết sức bình thường, giống như những hoạt động kinh doanh khác. Chúng ta phải quan tâm đến nó, sống cùng với nó, tận dụng và khai thác nó.” Đối với trường hợp của Uber và Grab tại Việt Nam, ông cho rằng các nền tảng công nghệ này mang lại nhiều lựa chọn hơn cho người dân, vì vậy không nên cấm mà phải tìm cách kiểm soát.

Thách thức đối với Việt Nam và các nước trên thế giới là đảm bảo nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia. Khi các bên chưa hiểu rõ cấu trúc chi phí và rủi ro mà họ phải chịu thì sẽ sinh ra mâu thuẫn. Ông Thành lấy Uber làm một ví dụ. Tài xế phàn nàn rằng tiền công không xứng đáng với công sức họ bỏ ra. Trong khi nhìn từ góc độ của Uber, công ty này phải đầu tư công nghệ, mở rộng thị trường và gánh chịu nhiều rủi ro trong hoạt động kinh doanh.

Ông Vũ Tú Thành cho rằng giống như tất các các giao dịch thương mại, dân sự khác, cần có cơ chế quy định lợi ích và rủi ro của các bên tham gia trong mô hình kinh tế chia sẻ. Việt Nam cần xây dựng từ đầu khung pháp lý mới thay vì chỉ “cơi nới” chính sách. Ông nhấn mạnh “Chủ nghĩa cơi nới là kẻ thù lớn nhất của sáng tạo.”

Nền kinh tế chia sẻ đã xuất hiện từ những năm 1990. Tuy nhiên, chỉ sau khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 thì mô hình này mới thật sự phát triển do nhu cầu chia sẻ tài sản dư thừa để tiết kiệm chi phí kết hợp với sự phát triển của nền tảng công nghệ.

Kinh tế chia sẻ (Sharing economy) đề cao tính hợp tác hơn tính sở hữu. Với những hàng hóa có giá thành đắt đỏ hoặc việc sở hữu hàng hóa đó bất tiện thì mọi người không có nhiều động lực sở hữu. Việc “chia sẻ” tài sản, dịch vụ có tác dụng giảm chi phí mua sắm mới, tăng hiệu quả sử dụng tài sản và phân phối lại nguồn lực trong nền kinh tế một cách hợp lý.

Theo Trí thức trẻ

Có thể bạn quan tâm

Người tiêu dùng Hàn Quốc tìm lại hương vị thực phẩm truyền thống

Người tiêu dùng Hàn Quốc tìm lại hương vị thực phẩm truyền thống

Những sản phẩm từng bị ngừng kinh doanh, bao bì mang phong cách cổ điển và cả cách quảng cáo từ thập niên 1970, 1980 đang trở lại thị trường Hàn Quốc khi người tiêu dùng tìm kiếm cảm giác hoài niệm cùng hương vị quen thuộc của các món ăn vặt và đồ uống truyền thống…

Trí tuệ nhân tạo ngày càng khát nước

Trí tuệ nhân tạo ngày càng khát nước

Nhu cầu nước khổng lồ để vận hành và làm mát các trung tâm dữ liệu phục vụ AI đang khiến các tập đoàn công nghệ lớn vấp phải làn sóng phản đối trên toàn cầu, khi cộng đồng địa phương lo ngại nguồn nước sinh hoạt bị đe dọa trong khi lợi ích kinh tế và việc làm mang lại còn hạn chế…

(Hình ảnh minh hoạ)

Start-up Mỹ tuyên bố tạo ra vàng từ thủy ngân

Tuyên bố mới đây từ một start-up Mỹ về việc biến thuỷ ngân thành vàng đã làm dấy lên những tranh luận về khả năng vàng nhân tạo có thể thay đổi nguồn cung, gây sức ép lên giá và đặt ra bài toán thương mại hóa đầy thách thức…

Vì sao một ổ bánh mì ở Đan Mạch đắt gấp ba lần Bulgaria?

Vì sao một ổ bánh mì ở Đan Mạch đắt gấp ba lần Bulgaria?

Giá thực phẩm tại châu Âu ghi nhận mức chênh lệch đáng kể giữa các quốc gia, với Thụy Sĩ và các nước Bắc Âu thuộc nhóm đắt đỏ nhất, trong khi nhiều nước Đông Âu có mức giá thấp hơn, do khác biệt về tiền lương, chi phí năng lượng, vận tải, thuế và sức mua của người dân…

Sự trở lại của “ông mai, bà mối”

Sự trở lại của “ông mai, bà mối”

Sau hơn một thập kỷ “dating app” làm thay đổi cách con người tìm kiếm tình yêu, dịch vụ mai mối chuyên nghiệp đang có cơ hội hồi sinh tại nhiều quốc gia châu Á khi giới trẻ dù có nhiều lựa chọn trên môi trường số nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm một mối quan hệ nghiêm túc...

Mai mối trở thành ngành kinh doanh hái ra tiền

Mai mối trở thành ngành kinh doanh hái ra tiền

Từ ứng dụng hẹn hò miễn phí đến dịch vụ mai mối thu phí hàng nghìn USD, kết nối tình cảm đang hình thành những mô hình kinh doanh mới, trong đó niềm tin, khả năng cá nhân hóa và tỷ lệ chuyển đổi khách hàng thành doanh thu quyết định lợi thế cạnh tranh…

"Cuộc đua mai mối"... cấp chính phủ

"Cuộc đua mai mối"... cấp chính phủ

Tỷ suất sinh thấp kỷ lục đang thúc đẩy Singapore, Nhật Bản và Hàn Quốc đưa công nghệ vào hoạt động mai mối ở cấp quốc gia, mở rộng cơ hội kết nối cho người độc thân, dù vậy, thuật toán cũng khó có thể giải quyết những nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng nhân khẩu học…

Làn sóng dịch chuyển vàng dự trữ khỏi Mỹ ngày càng mạnh

Làn sóng dịch chuyển vàng dự trữ khỏi Mỹ ngày càng mạnh

Hà Lan quyết định chuyển 86 tấn vàng dự trữ từ Bắc Mỹ sang London, nối tiếp động thái của Pháp và thổi bùng trở lại cuộc tranh luận về việc giảm phụ thuộc vào Mỹ trong lưu giữ tài sản chiến lược giữa những bất ổn địa chính trị….

Hành khách lên tàu Brightline tại ga Fort Lauderdale trong chuyến tàu khai trương tuyến Miami - West Palm Beach

Vì sao đường sắt cao tốc chưa phát triển ở Mỹ?

Từng là biểu tượng của thời kỳ công nghiệp hóa, nhưng nay ngành đường sắt Mỹ lại tụt hậu trong cuộc đua cao tốc toàn cầu do thiếu đầu tư công, khoảng cách địa lý và sức ép từ các ngành vận tải khác, khiến những dự án tư nhân đầy tham vọng như Brightline cũng chật vật tìm đường phát triển…