Cuộc xung đột tại Trung Đông đã làm gián đoạn khoảng 1/5 nguồn cung năng lượng toàn cầu, trong đó phần lớn vốn được vận chuyển tới châu Á. Trong bối cảnh đó, để ổn định nguồn cung, Mỹ đã tạm thời nới lỏng các lệnh trừng phạt đối với dầu vận chuyển bằng đường biển của Nga. Kênh Channel News Asia cho biết Nga đã thu về hàng tỷ USD lợi nhuận từ diễn biến này, với xuất khẩu tiến gần mức đỉnh trước đây.
Trước áp lực nguồn cung, một số quốc gia Đông Nam Á như Philippines, Indonesia và Thái Lan đều đang tìm kiếm các nguồn thay thế ngoài Trung Đông, trong đó nhiều nước chuyển sang dầu thô của Nga. Đáng chú ý, Philippines, một đồng minh lâu năm của Mỹ, đã nhập khẩu dầu thô Nga lần đầu tiên sau 5 năm.
Việt Nam cũng đã có cuộc gặp chính thức đại diện năng lượng Nga vào cuối tháng 3 vừa qua để ký kết các thỏa thuận xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Đồng thời, hai bên đã ký thêm nhiều thỏa thuận hợp tác trong các lĩnh vực năng lượng - dầu khí, giao thông vận tải giữa các doanh nghiệp, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng. Bên cạnh đó, Việt Nam và Nga cam kết sớm nghiên cứu, mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực năng lượng mới, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo, góp phần thúc đẩy chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Bà Julia Goh, chuyên gia kinh tế cấp cao tại Ngân hàng UOB Malaysia, nhận định với báo Sin Chew Daily rằng an ninh năng lượng đã trở thành trụ cột trong các quyết định ngoại giao - điều gần như không thể hình dung cách đây một thập kỷ. Theo bà, đây là xu hướng mang tính khu vực, với dẫn chứng là Bangladesh hợp tác với Nga trong dự án Nhà máy điện hạt nhân Rooppur, trong khi nhiều quốc gia ASEAN khác cũng đang tìm kiếm các quan hệ đối tác về năng lượng hạt nhân và năng lượng tái tạo với Trung Quốc.
Bà Julia Goh còn nhắc tới Hiệp định An ninh Dầu mỏ ASEAN (APSA). Theo bà, dù đã tồn tại nhưng cơ chế này chưa từng trải qua một “phép thử áp lực” quy mô lớn.
Đáng chú ý, cơ chế Ứng phó Khẩn cấp Phối hợp (CERM) cho phép các nước thành viên tự nguyện cung cấp 10% nhu cầu dầu cho quốc gia láng giềng trong thời kỳ khủng hoảng. “Tính tự nguyện chính là điểm yếu căn bản. Trong một cuộc khủng hoảng nguồn cung thực sự, các quốc gia sẽ ưu tiên nhu cầu trong nước hơn là đoàn kết khu vực. CERM giống một khuôn khổ xây dựng lòng tin hơn là một công cụ khẩn cấp thực sự hiệu quả”, bà Goh nhận xét.
Ở góc độ khác, nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế Tang Shi Xuan cho rằng mức độ dễ tổn thương của Đông Nam Á phần lớn bắt nguồn từ việc dự trữ dầu chiến lược ở mức thấp. Ông chỉ ra rằng khu vực này còn thiếu cơ sở hạ tầng quy mô lớn và nguồn lực tài chính cần thiết để duy trì mức dự trữ cao hơn.
Việc xây dựng mạng lưới lưu trữ và hệ thống logistics đòi hỏi nhiều năm hoạch định cùng hàng tỷ USD đầu tư, điều vẫn nằm ngoài khả năng của nhiều quốc gia ASEAN. Trong khi đó, các nền kinh tế Đông Á dù có năng lực dự trữ tốt hơn, với Nhật Bản đủ dùng khoảng 254 ngày, Hàn Quốc 208 ngày và Đài Loan hơn 100 ngày, nhưng vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn cung từ Trung Đông.
Nhà nghiên cứu Tang Shi Xuan còn cảnh báo rằng nếu các quốc gia ASEAN nói riêng và Châu Á nói chung chỉ chuyển sự phụ thuộc từ Trung Đông sang một nguồn duy nhất như Nga hoặc Mỹ thì không thực sự giảm thiểu rủi ro mà chỉ đơn giản là chuyển đổi sự phụ thuộc. “Không nên đặt tất cả trứng vào một giỏ”, ông nhấn mạnh, đồng thời cho rằng an ninh năng lượng bền vững cần dựa trên chiến lược dài hạn nhằm đa dạng hóa cả nguồn cung lẫn các dạng năng lượng.